Ngân hàng tăng lãi tiền gửi, bao giờ giảm lãi suất cho vay?

Lãi suất cho vay bình quân tăng trái với kỳ vọng hạ nhiệt mặt bằng lãi vay. Chuyên gia nhận định lãi suất khó giảm sâu và có thể tăng cục bộ tại một số ngân hàng, kỳ hạn hoặc nhóm khách hàng.

Xuất hiện lãi tiết kiệm 9,6%/năm

Ngân hàng số Cake by VPBank đang triển khai chương trình ưu đãi cho khách hàng mở sổ tiết kiệm lần đầu, giúp lãi suất thực nhận có thể lên tới 9,6%/năm. Hiện ngân hàng niêm yết lãi suất lĩnh cuối kỳ 7,2%/năm cho kỳ hạn 6-9 tháng và 7,4%/năm với kỳ hạn 10-24 tháng. Với chương trình tặng voucher cộng thêm 2,2 điểm %/năm, áp dụng từ ngày 22/9 đến 31/10, mức lãi cao nhất có thể đạt 9,6%/năm. 

Mức 9,6%/năm thuộc nhóm cao nhất thị trường đối với tiền gửi thông thường hiện nay. Nếu tính theo mức lãi này, khoản tiền gửi 1 tỷ đồng trong một năm tương đương khoảng 96 triệu đồng tiền lãi.

Theo ghi nhận, mặt bằng lãi suất kỳ hạn 6-12 tháng tại nhiều ngân hàng hiện đã lên trên 7%/năm. ACB niêm yết mức cao nhất 7,8%/năm, trong đó kỳ hạn 9 tháng là 7,7% và 6 tháng là 7,6%. Sacombank áp dụng 7,5%/năm cho kỳ hạn 12 tháng; LPBank và Saigonbank cùng ở mức 7,2%, Bac A Bank 7,1%.

Ở kỳ hạn 12 tháng, MBV, OCB, PGBank, VCBNeo và VIB cùng niêm yết 7%/năm. BVBank và VPBank ở mức 6,9%/năm. Trong khi đó, nhóm ngân hàng quốc doanh gồm Agribank, BIDV, Vietcombank và VietinBank có mặt bằng thấp hơn, khoảng 6,6%/năm cho kỳ hạn 6-9 tháng và 6,8%/năm cho kỳ hạn 12-18 tháng.

Với kỳ hạn 18 tháng, Sacombank dẫn đầu ở mức 7,5%/năm, tiếp đến LPBank 7,15%; MBV, VCBNeo và Saigonbank cùng quanh 7%/năm.

Các mức trên là lãi suất huy động trực tuyến được ghi nhận ngày 20/9. Lãi suất thực tế có thể thay đổi tùy sản phẩm, số tiền gửi, phương thức nhận lãi và điều kiện ưu đãi của từng ngân hàng.

Việc các nhà băng liên tục đẩy mặt bằng lãi suất huy động lên cao đang tạo áp lực lớn lên chi phí vốn đầu vào, khiến lãi suất cho vay khó có thể hạ nhiệt như kỳ vọng.

Dự báo mặt bằng lãi suất huy động đi ngang

Theo số liệu Ngân hàng Nhà nước công bố mới đây, lãi suất cho vay bình quân trong tháng 8 là 10,7%, cao hơn tháng 7 liền trước 0,2 điểm phần trăm. Mức này thậm chí tăng khoảng 3 điểm phần trăm so với lãi suất của các khoản vay giải ngân cách đây một năm.

Các ngân hàng quốc doanh công bố lãi suất cho vay bình quân khoảng 7,4-7,6%/năm, trong khi tại một số nhà băng tư nhân, lãi suất dao động 8,4-9,5%/năm.

Tuy nhiên, khảo sát thực tế trên thị trường cho thấy lãi suất cho vay cao hơn đáng kể. Nhóm nhà băng quốc doanh hiện cho vay với lãi suất dao động 9-10,5%, còn ở nhà băng tư nhân có thể đến 11-13%/năm. Mức lãi suất thực tế phụ thuộc nhiều yếu tố như thời hạn, mục đích vay, tài sản thế chấp, lịch sử tín dụng.

Lãi suất cho vay ngắn hạn đối với nhóm lĩnh vực ưu tiên như xuất khẩu, nông nghiệp, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp vừa và nhỏ, ứng dụng công nghệ cao… cũng đã tăng lên mức trần 4%/năm theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Trao đổi với phóng viên Dân trí, ông Nguyễn Anh Khoa, Giám đốc Phân tích Chứng khoán Agriseco, nhận định mặt bằng lãi suất từ nay đến cuối năm khó giảm đáng kể do nhu cầu vốn của nền kinh tế vẫn cao, trong khi tăng trưởng tiền gửi chưa theo kịp.

Theo ông, sau giai đoạn hạ nhiệt, lãi suất gần đây đã tăng trở lại tại một số ngân hàng và phân khúc. Từ nay đến cuối năm, lãi suất có thể giảm cục bộ ở một số kỳ hạn hoặc nhóm khách hàng, nhưng mặt bằng chung vẫn ở mức cao. Khả năng xuất hiện một đợt tăng mạnh trên diện rộng không lớn, song dư địa giảm thêm cũng khá hạn chế.

Để lãi suất hạ nhiệt rõ rệt, ông Khoa cho rằng tăng trưởng tiền gửi cần cải thiện, đồng thời dòng vốn từ các dự án, đặc biệt dự án quy mô lớn và trung, dài hạn, phải nhanh chóng quay trở lại nền kinh tế. Khi vòng quay vốn tăng, thanh khoản hệ thống dồi dào hơn, chi phí huy động có thể giảm.

Bên cạnh đó, tỷ giá và lạm phát cần duy trì ổn định để cơ quan điều hành có thêm dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ, qua đó hỗ trợ giảm mặt bằng lãi suất.

Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính của Techcombank nhận định dư địa để lãi suất huy động giảm sâu hiện không còn nhiều trong bối cảnh lạm phát chịu áp lực tăng trở lại, trong khi nhu cầu vốn vẫn ở mức cao để phục vụ các dự án hạ tầng và đầu tư quy mô lớn. Các ngân hàng vì vậy vẫn cần duy trì khả năng huy động vốn nhằm đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng.

Tuy nhiên, đơn vị này cho rằng một số yếu tố có thể hạn chế nguy cơ lãi suất tăng mạnh. Việc giải ngân đầu tư công được kỳ vọng tăng tốc trong những tháng cuối năm có thể bổ sung thanh khoản cho nền kinh tế. Một phần dòng tiền được đưa ra nền kinh tế thông qua đầu tư công có thể đang quay trở lại hệ thống ngân hàng.

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước vẫn còn dư địa sử dụng các công cụ hỗ trợ thanh khoản khi cần thiết, như tăng quy mô bơm vốn qua thị trường mở (OMO), kéo dài kỳ hạn hỗ trợ hoặc triển khai các biện pháp điều tiết phù hợp. Theo nhận định, những công cụ này có thể giúp giảm áp lực thanh khoản trong hệ thống, qua đó hạn chế việc các ngân hàng phải cạnh tranh huy động vốn bằng cách tăng mạnh lãi suất tiền gửi.

Trên cơ sở đó, đơn vị này giữ nguyên dự báo lãi suất huy động sẽ chủ yếu đi ngang từ nay đến cuối năm. Trong kịch bản tích cực hơn, nếu Ngân hàng Nhà nước có thể mua thêm ngoại tệ để bổ sung dự trữ khi tỷ giá ở vùng thấp, lượng tiền đồng được bơm vào hệ thống có thể tạo thêm dư địa để lãi suất giảm.

4 yếu tố khiến lãi suất khó giảm sâu từ nay đến cuối năm

Theo TS Nguyễn Văn Lộc, Giám đốc chương trình đào tạo Kinh doanh thương mại, Đại học Phenikaa, dư địa để mặt bằng lãi suất huy động và cho vay giảm thêm là khá hạn chế. Vị này đưa ra kịch bản có xác suất cao hơn là lãi suất duy trì ở mặt bằng hiện tại và có thể tăng cục bộ tại một số ngân hàng, kỳ hạn hoặc nhóm khách hàng, thay vì hình thành một chu kỳ tăng mạnh trên toàn hệ thống.

Ông cũng cho rằng có 4 yếu tố chính tạo nên xu hướng này.

Thứ nhất, tốc độ tăng tín dụng đang cao hơn tốc độ tăng huy động vốn. Khi nhu cầu vốn của nền kinh tế tiếp tục tăng trong những tháng cuối năm, các ngân hàng phải cạnh tranh mạnh hơn để thu hút tiền gửi. Điều này khiến chi phí vốn đầu vào khó giảm và tạo một “mặt sàn” đối với lãi suất huy động.

Thứ hai, quý IV thường là giai đoạn nhu cầu tín dụng và thanh khoản tăng cao khi doanh nghiệp bổ sung vốn lưu động, nhập hàng, sản xuất và chuẩn bị cho mùa kinh doanh cuối năm. Vì vậy, ngay cả khi thanh khoản hệ thống nhìn chung vẫn được điều tiết, áp lực huy động vốn tại từng ngân hàng có thể khác nhau và dẫn tới việc điều chỉnh lãi suất mang tính cục bộ.

Thứ ba, lãi suất trong nước còn chịu ràng buộc bởi tỷ giá, lạm phát và môi trường lãi suất quốc tế. Nếu các ngân hàng trung ương lớn tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ thận trọng hoặc thắt chặt hơn, cùng với áp lực từ giá năng lượng và địa chính trị, dư địa để Việt Nam giảm mạnh lãi suất sẽ bị thu hẹp. Điều hành tiền tệ lúc này phải đồng thời cân bằng nhiều mục tiêu: hỗ trợ tăng trưởng nhưng vẫn phải kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và bảo đảm an toàn hệ thống.

Thứ tư, lãi suất cho vay thường có độ trễ so với lãi suất huy động. Khi chi phí huy động vốn chưa giảm, rất khó kỳ vọng lãi suất cho vay giảm mạnh trên diện rộng. Các ngân hàng vẫn có thể triển khai những gói tín dụng ưu đãi cho lĩnh vực ưu tiên hoặc khách hàng có chất lượng tốt, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc mặt bằng lãi suất cho vay chung của thị trường sẽ giảm tương ứng.

“Từ nay đến cuối năm, khả năng lãi suất giảm sâu là không lớn. Mặt bằng lãi suất có thể đi ngang ở mặt bằng tương đối cao và tăng nhẹ, có chọn lọc ở một số phân khúc. Tuy nhiên, cũng không nên quá lo ngại về một chu kỳ tăng mạnh, bởi cơ quan điều hành vẫn có các công cụ hỗ trợ thanh khoản và mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế”, ông nhấn mạnh. 

Nguồn : dantri

Tạp chí Kinh tế toàn cầu - Trang tin điện tử tổng hợp Kinh tế, Kinh doanh, Tiền tệ, tài chính, văn hóa xã hội

Website đang trong quá trình chạy thử nghiệm